Mittwoch, 19. Oktober 2011

Thiền sư thứ thiệt quở hậu bối...

Nhân dịp đọc post này của Guido, tôi phát hiện một đoạn văn rất hay được anh ta trích dịch từ quyển Zen under the Gun. Quyển này có phụ đề Four Zen Masters from Turbulent Times (“Bốn vị Thiền sư trong thời sóng gió”), trình bày các lời dạy của bốn vị Thiền sư Trung Hoa, được J.C. Cleary dịch sang Anh văn. Một trong bốn vị này là Trúc Tiên Phạm Tiên (竺僊梵僊, 1292-1348), người đã sang Nhật Bản hoằng hoá. Ban đầu, tôi muốn dịch thẳng từ Trung văn nhưng sau khi tìm ra được nguyên văn và thử đọc qua, tôi phải chịu thua vì văn ý nhiều mà lời ít cũng như quá cô đọng. Tuy không vừa lòng với một vài câu dịch quá giảng rộng của Cleary, tôi phải tin và thừa nhận là ông rất am hiểu loại văn Ngữ lục của nhà Thiền với những câu văn nói cô đọng của thời xưa. Đoạn văn dưới được tôi dịch dựa ý trên bản Anh văn, nhưng đã đối chiếu với Hán văn để chọn từ ngữ tiếng Việt thích hợp hơn.

Bài này là một gáo nước lạnh tạt vào mặt những ma đầu mồm xưng danh là đệ tử Phật nhưng lại tụm năm túm ba làm những việc bỉ ổi đáng chê trách. Hỡi các “Thiền sư”, “Zen Master”, “Zen-Meister” và Phật tử tại gia dỏm, hãy coi chừng!
Thiền sư Trúc Tiên Phạm Tiên viết như sau:

“Cuối thời Tượng pháp, [Phật pháp] dần dần trở nên vô nghĩa. Tâm con người thờ ơ nông cạn, khó gặp được người giỏi. Cửa Thiền vắng lặng. Nhìn xem Thiền đã suy đồi như thế nào so với những nhà hiền triết trước đây!
Trong thời đoạn này, nếu chúng ta muốn tìm người [tuấn tú] như thế [cho nhà Thiền], họ phải có linh cốt (= xá-lợi) từ những kiếp sống trước, bẩm sinh có sức lực của đại nguyện và đi trên xe của đại hạnh, để có thể bước chân trên Đại đạo nằm ngoài [trạng thái] điên đảo và đạo đức giả. Vì sao? Gặp thời vận mỏng manh, con đường trên thế gian này trở nên xa xôi khúc mắc. Các hình tướng trên thế gian bên ngoài rầm rĩ nhỏ nhen trong khi [lòng tham] lợi ích thế gian đã dầy đặc.
Thế nên, sự việc thế gian ảnh hưởng lớn đến những người đang bị chúng lôi cuốn nếu căn cơ của họ không vững và sức lực của họ non nớt, nếu sự tu tập và lời nguyện không đủ sâu sắc và nếu họ không hoàn toàn đoan chính trong thâm tâm. Nếu sự việc thế gian đã chiếm đoạt những người ấy rồi thì họ bị chúng trói buộc, cho dù một giây phút cũng không thể trốn thoát chúng. Họ chỉ tiếp tục sự nghiệp hèn hạ của họ. Tâm tư đáng khinh khi của họ không ấp ủ mưu kế nào ngoài việc đạt lợi lộc, nuôi dưỡng chính nó và hơn thua người khác về mặt danh tiếng—chỉ vậy thôi.
“[Những người có vẻ mộ đạo] tụ tập với bè bạn và lập bè đảng ma đồ. Nếu bạn xuất gia vì những nguyên nhân trên thì thân tâm làm sao được bình an? Một khi đã trở thành ma đồ như thế thì tất cả những gì họ nói và làm tất yếu là ma sự. Vì lí thuyết của họ ngay từ gốc đã sai nên những gì họ làm ngay từ đầu phải là sai. Nếu bạn sa lạc vào loại này thì có dùng được gì, ngay trong trường hợp bạn có chút trí huệ?” (Zen under the Gun, trang 124-5, Taishō 80, 2554, 390c)

Samstag, 15. Oktober 2011

Thiền, Định, Chỉ, Quán... vấn đề chữ & nghĩa trong nhà Phật

Nhân dịp thấy ông anh rể cầm quyển sách Thiền dưới ánh sáng khoa học của một thầy dạy Thiền với pháp danh Thông Triệt, tôi tò mò muốn đọc thử xem hai từ Thiền và Khoa học được hiểu như thế nào vì tôi nghĩ chắc chắn là chúng sẽ bị hiểu sai. Và tôi không thất vọng! Vừa đọc phần “Nhân duyên tạo ra luận này”, tôi đã phải cười to khi đọc vài đoạn văn khai mở. Sau đây là phần nguyên văn để mọi người đọc qua cho biết:
[Trang 1, Chương I: Nhân duyên tạo luận] “… Ngày nay, đứng trước ‘rừng Phật học’ của nhiều tông phái trong Đạo Phật và đứng trước ‘rừng Thiền học’ do các tông phái trong Đạo Phật chủ trương, người con Phật thuần thành, có quyết tâm tìm pháp tu để chính mình tự kinh nghiệm an tịnh nội tâm, hài hoà thân tâm, và phát huy trí huệ tâm linh thật là điều vô cùng khó khăn. Chỉ vì phần lớn, Phật học và Thiền học hiện nay, tuy có mang danh nghĩa là Phật giáo, nhưng tinh thần và chủ trương thì hoàn toàn khác hẳn với tinh thần và chủ trương của Phật Thích Ca thuở xưa.
Thí dụ, thuở xưa Đức Phật thành đạo bằng 2 phương tiện đặc sắc là Định và Huệ. Cả hai phương tiện đó đều đặt trên cơ sở tâm như, hoặc còn gọi là “tâm bất động”. Tâm đó, chúng tôi xếp là tâm linh trong đạo Phật. Ngày nay, không ai chú trọng đến 2 phương tiện đặc sắc đó nữa. Hơn 2000 năm qua, nhiều bộ phái Phật giáo chỉ nhắm khai triển 2 phương tiện bình thường là Quán và Chỉ, hoặc Chỉ Quán. Chỉ riêng các bộ phái trong Đại chúng bộ, họ khai triển phần tinh ba Giáo pháp là Không tánh (Śūnyatā) và Như tánh (Tathatā). Họ chỉ bày đến nơi rốt ráo.”
Thầy này không biết ý nghĩa nguyên thuỷ của ba từ Chỉ, Quán và Định như thế nào cả. Chỉ (skrt. śamatha, pā. samatha) đồng nghĩa với Định (skrt., pā. samādhi), và Chỉ-Quán (skrt. śamatha-vipaśyanā/-vidarśanā, pā. samatha-vipassanā) đồng nghĩa với Định-Huệ, như quyển từ điển Phật giáo Pali của Nyanatiloka cho thấy:
    •samatha-vipassanā
    —‘Gemütsruhe’ und ‘Hellblick’, sind identisch mit Sammlung (siehe samādhi) und Wissen (siehe paññā) und bilden die 2 Gebiete der geistigen Entfaltung (siehe bhāvanā). Xem nguồn chỗ này.
—‘tranquillity and insight’, are identical with concentration (samādhi, q.v.; s. prec.) and wisdom (paññā, q.v.), and form the two branches of mental development (bhāvanā, q.v.). Xem nguồn chỗ này.
Những lời dao to búa lớn bên trên không khác gì những phát rắm nếu người đọc biết được cơ sở giáo lí của tác giả. Quyển sách với nội dung nửa sự thật này thật ra không đáng được nhắc đến, nhưng sau khi đọc được câu nêu “thành tích”
“Chúng tôi đã mở ra được 62 khoá Căn bản, hoàn tất 12 khoá Trung cấp Bát nhã, 3 khoá Tâm lý học Phật giáo, 2 khoá Giáo Thọ: trong nước và ngoài nước Mỹ”.
và có liên lạc trực tiếp với một số người học theo cách Thiền của thầy này cũng như thấy thành tích” tu học của họ sau gần 10 năm, tôi có hứng viết “thọc gậy” để “bánh xe phi pháp” này tạm dừng hoặc ít nhất là gẫy vài cây căm, không lăn đi xa nữa.